Việc Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua dự luật này là một thắng lợi của ông Bush; trong khi đó Quốc hội không đưa ra được thời gian cụ thể cho việc rút quân tại Iraq kể từ sau lời đe dọa sẽ bác bỏ của tổng thống.
Tuy nhiên, dự luật ngân sách này còn kèm theo hai điều kiện. Thứ nhất, cấm các binh lính Mỹ xây dựng các căn cứ lâu dài tại Iraq; và thứ hai Iraq phải có trách nhiệm với những chi phí mà Hoa Kỳ đầu tư vào tái thiết Iraq.
Dự luật ngân sách quốc phòng mới này sẽ nâng tổng chi phí đầu tư vào chiến tranh tại Iraq lên 650 tỷ đôla, và nâng tổng chi phí vào“những cuộc chiến tranh chống lại khủng bố” lên 850 tỷ đôla trong đó có cả cuộc chiến với Afghanistan.
Khi bắt đầu cuộc chiến Iraq lật đổ tổng thống Saddam Hussein, tổng thống Bush dự báo chỉ tốn khoảng 50-60 tỉ USD. Thực tế cho thấy chi phí quân sự ở Iraq đã tăng gấp 50-60 lần.
Theo giáo sư Stiglitz, lúc đầu chính quyền ông Bush không quan tâm lắm đến chi phí cuộc chiến. Nhà Trắng trấn an dân chúng rằng bản thân cuộc chiến ắt tìm ra nguồn chi như tài nguyên dầu lửa của Iraq chẳng hạn. Nhưng khi Larry Lindsey, trưởng cố vấn kinh tế Nhà Trắng, tuyên bố rằng chi phí sẽ vào khoảng 100 tỉ đến 200 tỉ USD thì ông này sau đó bị cách chức ngay vì dám nói thật. Bộ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ là Donald Rumsfeld chỉ đưa ra con số 50-60 tỉ USD mà thôi. Rõ ràng con số này nay đã quá lỗi thời.
Giáo sư Stiglitz ước tính phải hơn 3.000 tỉ USD vì phải tính thêm chi phí thuốc men và an sinh cho lính. Đó là nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng tín dụng đang đe dọa không chỉ nền kinh tế nước Mỹ mà còn cả thế giới.
So với thế chiến thứ hai, chi phí cuộc chiến Iraq đứng hàng thứ hai. Nhưng càng kéo dài thì tác hại của nó lên nền kinh tế Mỹ càng nghiêm trọng.