Phiên tòa phúc thẩm ở New York phán xét rằng phía nguyên đơn đã thất bại trong việc chứng minh việc sử dụng chất độc da cam, một hóa học diệt cỏ, trong thời chiến là vi phạm luật quốc tế về vũ khí độc hại. Phiên tòa còn nhận xét, phía nguyên đơn đã không chứng minh được những vấn đề sức khỏe của nguyên đơn có dính dáng đến chất độc da cam. Chúng ta thử xem qua phán quyết về hai điểm trên của tòa án xác tín cỡ nào.
Công pháp quốc tế
Báo cáo của Liên Hiệp Quốc viết năm 1969 định nghĩa các tác nhân chiến tranh hóa học (chemical warfare agents) là “... những hóa chất – dù là khí, chất lỏng hay chất đặc – có thể sử dụng vì ảnh hưởng độc hại của chúng trên con người, thú vật và thực vật”.
Nghị định Geneva năm 1925 đặt ngoài vòng pháp luật việc sử dụng bất cứ chất lỏng, vật liệu, hay công cụ nào chứa độc chất trong chiến tranh.
Quy ước về vũ khí hóa học (The Chemical Weapons Convention) định nghĩa vũ khí hóa học không chỉ bao gồm những độc chất nhưng còn kể cả đạn dược và thiết bị sử dụng để phân tán độc chất nữa.
Dioxin được xem là một trong những độc chất nguy hiểm nhất trong các hóa chất do con người tạo ra và biết đến. Năm 1997, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International Agency for Research on Cancer) cũng phân loại dioxin là một độc chất có khả năng gây ra ung thư cho con người. Tưởng cần nhắc lại là trước đây, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (Environmental Protection Agency, EPA, Mỹ) chỉ phân loại dioxin như là một chất “có thể gây ra ung thư”. Nhưng trong một báo cáo khoa học mật được đệ trình lên Quốc hội Mỹ, các nhà nghiên cứu Mỹ đã khẳng định rằng dioxin gây ra nhiều ung thư trong con người, kể cả ung thư máu và ung thư phổi. Họ cũng đề nghị EPA phân loại lại dioxin là độc chất số một, tức độc hại nhất trong các hóa chất.
Trước cũng như sau cuộc chiến Việt Nam, Mỹ lập trường rằng chất độc da cam chỉ là “thuốc diệt cỏ”. Tuy nhiên, năm 1969, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nhóm họp và ra nghị quyết khẳng định rằng Nghị định Geneva năm 1925 áp dụng cho tất cả các loại vũ khí, kể cả vũ khí hóa học và độc chất da cam. Vì thế, có thể nói chiến dịch dùng dioxin trong chiến tranh là một vi phạm công pháp quốc tế. Có lẽ nhận thức được sự nghiêm trọng này, năm 1975 tổng thống Gerald Ford ký sắc lệnh số 11850 rằng Mỹ sẽ không là quốc gia đầu tiên dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh.
Mối liên hệ giữa chất độc da cam và bệnh tật
Trong phán quyết năm 2005, thẩm phán Weinstein không thấy thuyết phục bởi các luận điểm của phía nguyên đơn về nguyên nhân bệnh tật. Năm nay, tòa án phúc thẩm lặp lại phán quyết này.
Tuy nhiên, đây là một phán quyết khó hiểu nhất. Nếu nói về cái gọi là chứng minh mối liên hệ nhân quả thì nó đi ra ngoài phạm vi của y khoa. Trong y khoa và khoa học, không có cái gọi là “chứng minh”, mà chỉ có bằng chứng có nhất quán hay không nhất quán với giả thuyết hay không mà thôi. Trong y tế công cộng, người ta không có và sẽ không bao giờ có (ngoại trừ cố ý giết người) cái xa xỉ để thử nghiệm bằng cách cho nạn nhân uống dioxin để xem có bệnh hay không. Không ai biết một cách chính xác cơ chế gây tác hại của thuốc lá, nhưng vì người hút thuốc có nhiều bệnh so với người không hút thuốc lá và sự thật đó cũng đủ để xã hội hạn chết hút thuốc lá. Tương tự, chưa ai biết chính xác những cơ chế sinh học gây tác hại của chất độc da cam và dioxin, nhưng sự thật là cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ sinh con với dị tật bẩm sinh cao và sự thật đó cũng phù hợp với giả thuyết gây tác hại của độc chất da cam.
Trong các trường hợp khác về bồi thường do nhiễm độc chất (như trường hợp “Erin Brockovich” ở California như đề cập đến trong phán quyết), nguyên đơn chỉ cần trưng bày bằng chứng cho thấy tỉ lệ bệnh tật trong nhóm bị nhiễm độc chất cao hơn nhóm không bị nhiễm (và đó không thể là mối liên hệ nhân quả) vẫn được xem là bằng chứng thuyết phục. Trong trường hợp này, có nghiên cứu cho thấy trong thời gian từ năm 1955-1964 (trước khi có chiến dịch phun độc chất) tỉ lệ dị tật thai nhi trong 3 làng là 2,1%, và giữa những năm 1965-1974 (sau khi chiến dịch da cam) thì tỉ lệ này trong 3 làng trên tăng đến 5% (trích từ bài báo trong tập san Environmental Health Perspectives 2000; 108: số 10), và dùng lý luận của trường hợp Erin Brockovich, người ta cũng có thể xem đó là bằng chứng về tác hại của chất độc da cam. Do đó, việc đòi hỏi bằng chứng của Weinstein xem ra là một đòi hỏi quá máy móc!
Tòa án Mỹ không nên phủi tay hay đòi hỏi “bằng chứng”, bởi vì như đề cập trên, có bằng chứng cho thấy trước khi rải chất độc da cam xuống Việt Nam, họ đã biết được chất này là độc hại, nhưng vì lúc đó họ coi người Việt là kẻ thù nên họ không quan tâm gì đến mạng sống của người Việt. Đúng như tiến sĩ Dwernynchuk (Công ty Hartfield Consultants của Canada) nói rất rõ ràng rằng không cần phải có thêm nghiên cứu; vấn đề cần thiết trước mắt là xoa dịu và bảo vệ nạn nhân độc chất da cam.
Trong khoảng 15 năm qua, Mỹ tiêu ra hơn 350 triệu USD để đi tìm những hài cốt lính Mỹ đã mất tích trong thời chiến ở Việt Nam. Còn nạn nhân độc chất da cam thì họ không màng đến, thậm chí còn tìm cách cố chối tránh vấn đề. Thực là khó hiểu, trong khi họ tiêu tiền như nước để đi tìm những bóng ma, nhưng lại sao nhãng những nạn nhân đang sống ngay trước mắt họ! Hay là lằn ranh chủng tộc và văn hóa vẫn còn chi phối và làm lu mờ công lý Mỹ?
Phán quyết sai lầm và bất công
(NLĐ)- Ngày 23-2, trả lời câu hỏi của phóng viên TTXVN, đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về việc ngày 22-2 Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ tại New York đã ra phán quyết bác đơn kiện của các công dân Việt Nam, nạn nhân chất độc da cam/dioxin chống các công ty hóa chất Hoa Kỳ về việc sử dụng chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao, ông Lê Dũng, nêu rõ:
Phán quyết sai lầm và bất công của Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ ngày 22-2 đã làm cho nhân dân Việt Nam rất bất bình. Điều hết sức đáng tiếc là Tòa Phúc thẩm Liên bang Hoa Kỳ lại đưa ra phán quyết như vậy trong khi Chính phủ Hoa Kỳ đang có những nỗ lực hợp tác với Việt Nam để khắc phục hậu quả của chất độc da cam/dioxin.
Giải quyết những hậu quả của chất độc da cam/dioxin là vấn đề nhân đạo hết sức bức xúc. Đòi hỏi của các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam là hoàn toàn chính đáng. Chúng tôi tin tưởng rằng cộng đồng quốc tế, trong đó có nhiều tổ chức, cá nhân Hoa Kỳ, sẽ tiếp tục sát cánh với các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi sự thật công lý này.
Diễn tiến vụ kiện
. Ngày 30-1-2004, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam quyết định đệ đơn kiện các công ty hóa chất Mỹ. Các công ty này bị truy tố với 10 tội phạm, kể cả tội phạm chiến tranh, làm lợi bất chính, gây thương tích cho thường dân, v.v... Vụ kiện đã gây được chú ý của thế giới về nạn nhân dioxin ở Việt Nam.
. Sau một thời gian ngắn nghe bằng chứng từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10-3-2005, thẩm phán Jack Weinstein thuộc tòa án địa hạt Brooklyn, New York, công bố phán quyết trong một tài liệu dài 233 trang. Trong bản phán quyết dài và phức tạp, ông Weinstein đề cập đến các trường hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lý thuyết của luật pháp Mỹ và luật pháp quốc tế, và kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lý dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế. Vụ kiện không được xét xử”.

Máy bay Mỹ rải chất độc hoá học xuống nhiều nơi ở Việt Nam (ảnh: Tư liệu)
Phía nguyên đơn quyết định theo đuổi vụ kiện qua một phiên tòa phúc thẩm. Ngày 18-6-2007, tòa án New York bắt đầu xét xử đơn của Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam đệ đơn kiện 32 công ty hóa học từng sản xuất và cung cấp hóa chất, kể cả chất độc da cam sử dụng trong cuộc chiến kéo dài suốt 10 năm (từ 1961-1971). Phiên tòa thu hút sự chú ý của thế giới và ngay cả Quốc hội Mỹ.
. Ngày 22-2-2008, phiên tòa phúc thẩm ở New York bác bỏ kháng đơn của Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam và giữ nguyên phán quyết của chánh án Jack Weinstein. Luật sư phía nguyên đơn Jonathan Moore cho rằng đây là một phán quyết bất công và phi đạo đức; nếu đây là phán quyết sau cùng thì một chương lịch sử đau buồn trong chiến tranh Mỹ – Việt liên quan đến chất độc da cam đã chấm dứt. Ông cũng cho biết sẽ kháng cáo lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Người viết bài này không nghĩ như thế. Bất kể phán quyết của tòa án ra sao, vấn đề vẫn tồn tại khi thế giới này vẫn tồn tại, vì nó là một vết nhơ trong chiến tranh mà thế giới không thể nào quên được.