Những điều trông thấy
Lối vào các thôn trong xóm hẹp hơn nữa, chỉ trên dưới 1 mét, hầu hết đã được “bê tông hóa”, nhưng bị “lấn chiếm” bởi những bịch rác treo lủng lẳng trước cửa sổ, trên tường của nhà dân hai bên. Đủ cả: vỏ ni-lon, cơm thừa, canh cặn... Tất cả được tuồn vào một cái túi, hoặc thậm chí tấp ngay đầu ngõ, đợi xe rác đi gom. Chừng đã “om” vài ba ngày nên rác bắt đầu “dậy mùi”.
Trên những bức tường vây bằng hàng rào sắt, một dãy dài các vuông vải hoa cũ kĩ, ngả màu thâm đen cùng các mảnh áo mưa còn lem nhem vết bẩn được trưng ra, tranh thủ trời nắng. Đó là những đồ nghề không thể thiếu của người làm bún.
Mon men bước vào một cánh cổng hẹp, ánh sáng yếu ớt vì bị dàn su su che khuất, tôi giật mình: Chuồng lợn ngay trước cổng. Năm con lợn thịt núng nính đã đến tuổi xuất chuồng đang đòi ăn, tranh nhau dẫm đạp trên nền chuồng nhơm nhớp nước thải và phân.
Ngay cạnh đó là hai chiếc bể xây ốp gạch, nơi chứa bột làm bún. Chiếc máy ép, máy đánh bột bên bể nước rêu mốc xanh rì, lỉnh kỉnh xô chậu xếp xung quanh còn vương bột gạo chưa kịp rửa sau mẻ bún tối qua. Đàn ruồi đang tranh thủ “kiếm chác”.
Hơn hai chục thùng nhựa ngâm bột (loại thùng mà nông dân hay dùng để gánh nước tưới ruộng) xếp trong một góc bếp tối tăm, phải căng mắt mới nhìn rõ. Chiếc máy ép bún hoen gỉ đặt sát bếp lò, vắt vẻo mấy mảnh giẻ rách. Một thứ mùi chua phủ lên cả cái “xưởng bún” chật chội và ẩm ướt. Trong khi khu sinh hoạt của gia đình được xây khang trang ngay cạnh, nền cao hơn cả mét, gạch men láng bóng. Hai đứa trẻ hồn nhiên chạy nhảy bên đống xô chậu và miệng cống nước thải đen ngòm dẫn từ chuồng lợn ra.
Giải đáp thắc mắc của tôi tại sao không tôn nền cao lên, xây rộng ra cho thoáng đãng sạch sẽ, ông Sơn - chủ “cơ ngơi” trên nói: giờ mà xây thì phải dừng làm bún một thời gian. Tốn kém mà chắc gì đã thu nhập cao hơn. Tôi cũng chỉ định làm ít thế này thôi, vài tạ mỗi ngày, không định mở rộng quy mô”.
Ông bảo, chuyện vệ sinh đã có Hợp tác xã lo, không việc gì phải sợ. Họ đi kiểm tra an toàn thực phẩm suốt đấy (?!) Dọc con ngõ nhà ông Sơn, ghé mắt nhìn vào các khoảng sân chật hẹp, đâu cũng thấy nhà tắm, nhà vệ sinh, chuồng lợn ngay cửa trước. Thấp thoáng phía sau là những thùng, xô chậu ngâm gạo, ngâm bột với thứ mùi “đặc trưng” mà không phải dân Phú Đô thì chỉ mươi phút đã đủ nôn nao.

Nơi nướng chả của một quán ăn đông khách ở Phú Đô
Căn nhà hai tầng cuối xóm của bà Thành đang rộn ràng tiếng máy đánh bột. Mồ hôi nhễ nhại, cầm chiếc gậy tre to tướng còn dính những vết bột khô, bà ra sức đảo từng tảng bột vào tâm của chiếc máy để đánh cho đều. Chiếc quạt gió chạy hết tốc lực phục vụ chủ nhân được đặt ngay cạnh đống than tổ ong vương vãi.
“Mình làm ít nên mới thủ công thế này, chứ bây giờ nhà nào làm nhiều, dăm tạ mỗi ngày thì lắp máy liên hoàn rồi. Đầu này cho bột vào, đầu kia ra bún luôn, nhanh mà rõ khỏe người, lại sạch sẽ!”. Hỏi, những nhà làm bằng máy liên hoàn như vậy nhiều không, bà Thành chặc lưỡi: “Ối giời! Cả chục triệu bạc một cái máy như vậy chứ ít của đâu, dễ ai cũng sắm được đấy!” Hàng chục tấn bún từ Phú Đô tỏa khắp Hà Nội, Hà Tây và một số tỉnh lân cận chủ yếu từ các “xưởng” còn thủ công như của ông Sơn, bà Thành. Số bún được làm ra từ các máy liên hoàn chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ.
Đấy là nói riêng về “công nghệ”. Còn vệ sinh hay không lại là một chuyện khác. Nước ngâm gạo, ngâm bột, vắt bún… hầu hết là nước giếng khoan được lọc sơ qua các bể cát, sỏi và than đá. Bấy nhiêu thứ đồ nghề, nhà nào cẩn thận thì giặt giũ, cọ rửa sạch sẽ, không thì phó mặc chuyện vệ sinh cho người ăn bún!
Bẩn - một phần... tất yếu của làng nghề?
“Trước kia, trăm nhà làm bún cả trăm, nay chỉ còn khoảng bốn năm chục hộ theo nghề, còn lại chuyển sang buôn bán, kinh doanh hàng ăn” - ông Sơn, một người làm bún Phú Đô cho biết. Quả vậy, từ cổng làng đi vào, hàng quán mọc lên san sát, phần nhiều là các món liên quan đến bún: bún chả, bún riêu, bún mọc, bún vịt bún ngan,….
Tại ngã ba gần chợ Phú Đô, một quán bún chả mù mịt khói. Chậu than tọa ngay trên nền đất còn chưa kịp khô sau trận mưa đêm. Chị nướng chả, một tay hối hả quạt than, một tay nhặt từng miếng thịt ướp xếp xếp vội vàng vào vỉ. Chị bếp trưởng đeo găng một bên tay, nhưng toàn bốc bún bằng tay… còn lại. Bên trong, thực khách say sưa ăn uống, chuyện trò giữa thời buổi dịch tả đang làn tràn
Các quầy bán đồ ăn sẵn: thịt quay, giò chả cũng không hề thấy người bán hàng nào dùng găng tay. Một con chó thui đã xẻ thịt phần hông, được đặt trên chiếc mâm chơ vơ bên đường, chỉ đậy sơ sài mảnh giấy báo. Phía trước là vũng nước mưa xe cộ chạy qua ầm ầm...
Dọc các ngõ ngách trong làng, rất nhiều ngôi nhà khang trang đang mọc lên. Nhưng từ các thiếu nữ “tóc nâu môi trầm”, các chàng trai quần jean áo hộp vừa phóng xe máy vèo vèo vừa lầm nhẩm theo điệu nhạc MP3, hay những người lớn tuổi, đều thản nhiên đi qua các đống rác ngồn ngộn ngay bên đường, thản nhiên hít thở thứ không khí chua nồng đến mức buồn nôn, như thể đó là một phần tất yếu. “Chuyện mất vệ sinh, tránh sao được, làng nghề mà!” Một thanh niên làm việc tại cửa hàng sửa chữa xe máy Minh Thi nói với tôi như vậy.