Nhiều người cho rằng Bissell đã bị CIA bạc đãi vì đã khiến cơ quan tình báo này không chỉ hao tốn tiền bạc mà còn mang nhiều tai tiếng từ những kế hoạch do thám trên không do ông ta đề ra.
Richard Bissell sinh năm 1910 tại thành phố Groton, bang Massachusetts. Năm 1932, Bissell tốt nghiệp Đại học Yale và được nhận vào làm việc tại Bộ Thương mại Mỹ, rồi sau đó công tác tại Phái bộ đại diện Mỹ tại châu Âu.
Khi Chiến tranh thế giới thứ II xảy ra, ông được Cục Các hành động chiến lược (OSS - tiền thân của CIA) tuyển dụng để tổ chức các hoạt động du kích, phá hoại tại các vùng lãnh thổ bị Đức Quốc xã chiếm đóng ở châu Âu.
Khi chiến tranh kết thúc, Bissell được bổ nhiệm làm điều phối viên của kế hoạch tái thiết kinh tế châu Âu của Mỹ có tên gọi Kế hoạch Marshall.
Năm 1950, Bissell quay về Mỹ để làm công tác nghiên cứu khoa học tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT). Tại đây, Bissell gặp gỡ với Clarene Johnson, một chuyên viên hàng không không gian nổi tiếng từng tham gia chế tạo loại chiến đấu cơ phản lực P-80 đầu tiên của Không quân Mỹ. Sự hợp tác nghiên cứu giữa Bissell và Johnson đã cho ra đời một kế hoạch do thám trên không có tên viết tắt là TCP.
Do giữa 2 người phát sinh mâu thuẫn nên cả hai thôi không hợp tác với nhau từ năm 1953. Tuy nhiên, Bissell vẫn tiếp tục nghiên cứu kế hoạch TCP theo quan điểm của mình. Vào tháng 08/1953, bị cuốn hút bởi kế hoạch đầy tham vọng của Bissell, Giám đốc CIA Allen Dulles lập tức tuyển dụng Bissell làm việc cho CIA.
Năm 1954, TCP chính thức trở thành học thuyết về tình báo không gian dưới thời Tổng thống mới đắc cử Dwight Eisenhower. Theo đó, để có thể giành thế thượng phong trong Chiến tranh lạnh, Mỹ cần phải tận dụng khoảng không bao la, không bị hạn chế về mặt địa lý để tổ chức các cuộc do thám từ trên không lãnh thổ Liên Xô và các quốc gia XHCN.
CIA bắt đầu triển khai kế hoạch do thám trên không bằng máy bay do thám U-2 và nhiệm vụ này được giao cho Bissell.
Tháng 08/1955, chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của một chiếc U-2 được tiến hành tại căn cứ thử nghiệm vũ khí bí mật Groom Lake của CIA tại bang New Mexico. Tuy nhiên, phải đợi đến cuối năm 1958, những chuyến bay do thám trên không bằng máy bay U-2 mới được triển khai trên không phận Liên Xô và các quốc gia XHCN Đông Âu.
Để thưởng công cho Bissell, Dulles bổ nhiệm ông vào chức vụ chỉ huy bộ phận Các kế hoạch hành động (DPD) của CIA và là người chịu trách nhiệm điều hành các kế hoạch do thám trên không của CIA.
Đến năm 1960, CIA bắt đầu gặp tai tiếng khi xảy ra vụ một chiếc U-2 bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô vào ngày 01/05/1960, viên phi công điều khiển máy bay Francis Garry Power bị phía Liên Xô bắt giữ.
Một năm sau, đến lượt một chiếc U-2 khác lại bị bắn rơi khi thi hành nhiệm vụ trên không phận Cuba, viên phi công bị tử nạn khi chiếc máy bay đâm sầm xuống biển.
Từ hai vụ việc này, tại Mỹ, nhất là Quốc hội xuất hiện nhiều chỉ trích chương trình do thám trên không của CIA, vừa tốn tiền, không mang lại hiệu quả bao nhiêu vừa gặp nhiều tai tiếng, làm ảnh hưởng đến uy tín của Mỹ trên chính trường quốc tế.
Tuy nhiên, mặc cho phản ứng của dư luận và Quốc hội, CIA vẫn kiên trì với học thuyết tình báo trên không đồng thời giao nhiệm vụ cho Bissell bắt tay nghiên cứu một phương pháp hành động khác đạt hiệu quả.
Để đáp lại sự tin tưởng của CIA, Bissell thành lập một nhóm nghiên cứu có sự cộng tác của nhiều nhà khoa học hàng không không gian như giáo sư Luis Alvarez, Sidney Beldner, Malvin Ruderman và Sidney Drell để nghiên cứu chế tạo vệ tinh do thám trong một kế hoạch bí mật có tên gọi Corona.
Đầu năm 1963, tại căn cứ thử nghiệm Groom Lake, hỏa tiễn Thorn đã phóng thành công một vệ tinh do thám KH-1 nặng 750kg vào không gian, các thiết bị ghi hình đã chuyển về mặt đất nhiều ảnh chụp rõ nét các mục tiêu dưới đất.
Thành công này đã mở ra tiến trình do thám trên không bằng vệ tinh của CIA với việc phóng tiếp vào không gian các vệ tinh do thám KH-2, KH-3, KH-4, KH-4A và KH-4B.
Không dừng lại đó, Bissell tiếp tục cho ra đời kế hoạch do thám trên không bằng máy bay phản lực siêu thanh SR-71 có tên gọi “Món quà 121”. Do có tính năng bay nhanh hơn tốc độ âm thanh và bay ở cao độ trên 21.000m nên SR-71 khó bị phát hiện bởi radar và khó bị bắn hạ bởi phòng không của đối phương. Các phương tiện ghi hình hiện đại sẽ giúp SR-71 chụp được những hình ảnh rõ nét về các cứ điểm quân sự của đối phương.
Năm 1966, chương trình này chính thức đưa vào hoạt động đã xảy ra vô số trục trặc kỹ thuật khiến 12 trong tổng số 30 chiếc SR-71 đang bay gặp tai nạn. Vì vậy, đến năm 1968, các chuyến bay do thám bằng máy bay siêu thanh bị đình hoãn vô thời hạn và đến năm 1969 những chiếc SR-71 còn lại được tập trung về căn cứ Groom Lake để... phá hủy. Bissell bắt đầu bị thất sủng sau thất bại của kế hoạch “Món quà 121”.
Năm 1974, Bissell bị đẩy xuống làm việc tại Ban Hậu cần của CIA. Chán ngán, năm 1978, Bissell thôi làm việc cho CIA và kiếm được việc làm mới tại Tổ chức Ford.
Năm 1982, ông ta bắt đầu mắc chứng hoang tưởng, đi đâu cũng vỗ ngực huênh hoang về các chương trình do thám trên không của CIA mà mình là người có công lớn nhưng lại bị bạc đãi.
Để tránh gặp rắc rối, CIA tìm cách đưa Bissell vào chữa trị tại một viện dưỡng lão ở ngoại ô thành phố Richmond, thực chất là để giám sát mọi hành động của nhân vật này. Tại đây, Bissell qua đời một cách lặng lẽ vào sáng sớm ngày 24/03/1994.
Năm 2006, cuộc đời của hai quan chức CIA mắc chứng hoang tưởng là James Jesus Angleton và Richard Bissell được điện ảnh Hollywood tái dựng trên màn ảnh trong bộ phim có tựa đề “Những gã chăn cừu tốt bụng".