Nhiều nhà kinh tế cố gắng tìm kiếm đồ thị cho sự phục hồi bằng
cách nhìn vào mối tương quan giữa cuộc suy thoái lần này với những cuộc suy
thoái đã từng diễn ra trước đó trong lịch sử. Nhưng cuộc khủng hoảng lần này lại
có rất nhiều điểm khác biệt so với những cuộc khủng hoảng trước đó.
Về mặt nào đó, sự giảm sâu của sản lượng kinh tế đầu ra
trong cuộc khủng hoảng lần này cũng khá giống với những gì đã diễn ra đầu ra
năm 1970, 1980. Cú sốc trên thị trường tín dụng cũng khiến nhiều người nhớ về sự
đảo chiều của tín dụng đầu những năm 1990 để rồi kéo theo sau đó là một cuộc khủng
hoảng ngắn và vài năm liền để kinh tế hồi phục trở lại.
Tuy nhiên, điều khiến cuộc khủng hoảng lần này khác biệt với
hầu hết những cuộc khủng hoảng còn lại, theo nhiều chuyên gia kinh tế, đó là những
hệ lụy của nó có thể tác động tới nền kinh tế trong cả một thời gian dài sau khi đã hoàn toàn chấm dứt.
Tuy nhiên, cho dù nền kinh tế có phục hồi theo xu hướng nào
chăng nữa, rất nhiều người dân Mỹ vẫn không nhận thấy sự thay đổi trong hoàn cảnh
sống của bản thân họ. Số lượng người thất nghiệp quá lớn khiến cho tỷ lệ thất
nghiệp sẽ vẫn bị giữ ở mức tương đối cao ngay cả khi nền kinh tế bắt đầu hồi phục.
Điều đó tất yếu sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu nhập cũng như các khoản trợ cấp thất
nghiệp trong xã hội. Và một khi họ tìm kiếm được việc làm mới, những khoản tiết
kiệm vốn đã ít ỏi sẽ càng khiến họ thấy cuộc sống khó khăn hơn nếu như phải đối
mặt với nguy cơ mất việc mới trong vòng vài năm tới.
Một số lĩnh vực của nền kinh tế có vẻ hòi phục nhanh hơn những
khu vực còn lại, ví dụ như lĩnh vực sản xuất và bất động sản. Tuy nhiên, mảng tài
chính có vẻ như vẫn đang phải vật lộn với khó khăn bởi các ngân hàng vẫn đang
phải tìm cách khôi phục lại bảng tổng kết tài sản của mình, một dấu hiệu cho thấy
sự phục hồi của lĩnh vực này hiện vẫn ngoài tầm với.
Kinh tế Mỹ hiện là một bức tranh hòa trộn giữa cả sự lạc
quan mạnh mẽ và sự cẩn trọng lo âu. Trong những tháng qua, các nhà đầu tư Mỹ dường
như đã tự tin hơn với quá trình phục hồi của nền kinh tế và nhờ đó, thị trường
chứng khoán toàn cầu được đẩy bật lên hơn 40% so với mức điểm hồi tháng ba. Các
số liệu dự báo mới nhất từ bản khảo sát của phố Wall cho thấy, nền kinh tế đã bắt
đầu tăng trưởng, tuy rằng tốc độ còn khá thấp, chỉ vào khoảng từ 2% tới 3%
trong năm tới.
Sau giảm mạnh sẽ là
phục hồi mạnh mẽ
Có một điểm chung giữa hầu hết các cuộc khủng hoảng từng diễn
ra trong lịch sử, đó là sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế sau khi trượt theo
đà suy giảm sâu.
Trong cuộc khủng hoảng của những năm 1970, 1980, các hoạt động
của nền kinh tế đã nhanh chóng phục hồi và chỉ trong vòng vài tháng, tiền lương
của người lao động đã khôi phục như trước khi khủng hoảng xảy ra. Dean Maki,
chuyên gia kinh tế của Barclays Capital khẳng định: “Bạn sẽ không thể tìm thấy
một cuộc khủng hoảng trầm trọng nào mà theo sau nó lại chỉ là sự phục hồi một
cách chậm chạp trong lịch sử kinh tế.”
Những nhà dự báo ủng hộ quan điểm “khôi phục mạnh mẽ” tin rằng,
tăng trưởng kinh tế năm nay có thể đạt từ 3% tới 5% và đó sẽ là một động lực mạnh
đối với sự phục hồi kinh tế trong dài hạn. Các doanh nghiệp sẽ bắt đầu tăng sản
lượng sản xuất, thuê mướn nhân công cũng như đầu tư thêm vốn vào các thiết bị,
tài sản cố định. Lòng tin của người tiêu dùng được cải thiện, nhờ đó nhu cầu
chi tiêu cũng tăng lên.
Bên cạnh sự phục hồi tự nhiên đó là sự đóng góp không nhỏ của
những chương trình kích thích kinh tế mà chính phủ đã đưa ra. Nó giúp duy trì sự
ổn định của các hoạt động kinh tế từ giờ cho tới tận đầu năm 2010, tăng thêm lực
đẩy cho nền kinh tế thoát ra hoàn toàn khỏi cuộc khủng hoảng.
Tăng trưởng chậm
Đây là quan điểm của phái thứ hai khi cho rằng kinh tế có thể
phục hồi nhưng sẽ còn một vài rào cản khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại.
Lòng tin của người tiêu dùng suy giảm cùng với việc tỷ lệ thất
nghiệp vẫn ở mức cao cho dù tốc độ gia tăng thất nghiệp trong tháng vừa qua đã
chậm lại. Tiết kiệm của các hộ gia đình ở mức cao nhất trong cả thập kỷ qua kéo
theo chi tiêu tiêu dùng giảm trong khi chi tiêu cá nhân mang lại tới 70% thu nhập
cho các hoạt động của nền kinh tế.
Cú sốc tín dụng có vẻ vẫn gây nhiều tác động tới các doanh
nghiệp cũng như người dân Mỹ, đặc biệt là trên thị trường bất động sản. Những
chủ hộ ở Mỹ đang ngày càng cảm thấy khó khăn để tiếp cận được với những khoản
vay mới cũng như những khó khăn trong việc chi trả các khoản vay cũ. Đây chính
là một trong những lý do để “không nên hy vọng một sự phục hồi mạnh mẽ của nền
kinh tế”, Nigel Gault, chuyên gia kinh tế thuộc Global Insight cho biết.
Các chuyên gia kinh tế ủng hộ quan điểm này tin rằng, tăng
trưởng kinh tế từ giờ cho tới hết năm sau sẽ chỉ vào khoảng 1% tới 2%, thấp hơn
khá nhiều so với con số 4% hoặc 5% cần thiết đủ để phục hồi thị trường lao động
sau cú trượt sâu như hiện nay.
Phục hồi nhanh rồi tiếp
tục chìm vào suy thoái
Nền kinh tế trong những tháng vừa qua đã cho thấy nhiều dấu
hiệu hồi phục. Bên cạnh đó, các gói kích thích kinh tế của chính phủ có vẻ cũng
là một chỗ dựa đảm bảo cho sự phục hồi kinh tế ít nhất là tới tận năm sau.
Nhưng sau đó mọi thứ sẽ ra sao?
Sự suy giảm kinh tế trong cuộc khủng hoảng vừa qua lớn đến nỗi
người dân Mỹ sẽ không thể chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế đáng kể nào trong
vài năm tới. Chính vì thế họ sẽ thay đổi thói quen chi tiêu trước đây. Thay vì
dựa vào chiếc thẻ tín dụng, họ sẽ chỉ chi ra những khoảng chi cho những mặt
hàng nhận được trợ giá của chính phủ, rồi sau đó họ lại khép chặt hầu bao của
mình.
Các doanh nghiệp có thể sẽ vẫn phải duy trì sự cẩn trọng trong
hoạt động kinh doanh của mình. Ngân hàng sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều vấn đề đến
từ những khoản nợ xấu và nguy cơ xiết tài sản thế chấp để trả nợ ngày một gia
tăng. Khi chính phủ dần “rút lại” những biện pháp kích thích kinh tế, sự phục hồi
kinh tế rõ ràng sẽ chậm lại bởi nguyên nhân sâu xa cho sự phục hồi hiện thời
không phải nằm ở việc thị trường tự điều chỉnh mà là nhờ vào tác động tức thời
của những biện pháp kích thích đó.
Một ví dụ điển hình cho khuynh hướng này là cuộc suy thoái kéo
dài 6 tháng vào năm 1980 khi nền kinh tế sau khi phục hồi chưa đầy một năm đã lập
tức rơi vào một cuộc suy thoái khác. Những năm 1940, 1950 chứng kiến sự quay trở
lại của khủng hoảng chỉ ba năm sau khi cuộc suy thoái trước đó chấm dứt. Tất cả
chỉ vì một ký do chung, đó là sự phục hồi sau khủng hoảng không bền vững.
Một
mối lo ngại khác có tác động không nhỏ tới sự phục hồi của nền kinh tế hiện nay
là chi tiêu chính phủ. Một số chuyên gia kinh tế lo ngại rằng thâm hụt ngân
sách chính phủ sẽ dẫn tới việc Fed nâng cao lãi suất cho vay. Ron Heaton, giám
đốc điều hành Ngân hàng trung ương Nam Utah cho biết: “Một điều mà không ai biết
chắc là liệu những khoản chi tiêu chính phủ với với một lượng tiền lớn đang được
đổ vào hệ thống tài chính liệu có gây ra lạm phát cho nền kinh tế hay không.”