Không nên nói nới lỏng mà là linh hoạt
Thống đốc có thể cho biết cơ sở nào để Ngân hàng Nhà nước có những điều chỉnh mới trong chính sách tiền tệ nói trên?
Trước hết, phải thấy
rằng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu nghiêm trọng từ hôm
15/9 và đến nay đã lan rộng sang các nước phát triển khác. Theo dự báo
của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế thế
giới sẽ suy giảm. Nếu 2007 kinh tế thế giới tăng 5% thì dự báo cuối năm
nay chỉ còn 3,9%. Dự báo cho năm 2009 chỉ tăng có 3%.
Với tình hình diễn biến
phức tạp như thế, giá cả đảo lộn. Trước đây, hồi tháng 7 có lúc giá dầu
lên 147 USD/thùng thùng thì suốt tuần qua chỉ dao động trong khoảng 62
- 69 USD/thùng, kéo theo giá các loại hàng hóa khác cũng giảm như sắt
thép.
Đứng trước bối cảnh thế
giới có nguy cơ suy thoái, tất cả các quốc gia đến nay đã đưa ra các
phương án chủ động phòng chống suy thoái kinh tế.
Với Việt Nam, những
tháng đầu năm lạm phát cao và chúng ta đưa ra mục tiêu ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Từ tháng 6 tới nay, chúng ta kiểm soát
lạm phát tốt hơn và giảm dần. Đặc biệt tháng 9, lạm phát đã tăng chậm
lại, CPI chỉ tăng 0,18% và tháng 10 âm 0,19%.
Trước tác động của tình
hình thế giới và điều kiện trong nước, chúng tôi trình Chính phủ điều
chỉnh một số chính sách. Hôm 20/10 Ngân hàng Nhà nước đã quyết định
giảm lãi suất cơ bản 1 điểm phần trăm. Tiếp theo, hôm qua (3/11) tôi
cũng đã ký quyết định giảm lãi suất cơ bản thêm 1 điểm phần trăm nữa áp
dụng từ 5/11.
Động thái này, với điều
kiện mới, Chính phủ mới bàn tại phiên họp thường kỳ tháng 10. Tới đây
Chính phủ sẽ trình Quốc hội mục tiêu tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, chủ động ngăn ngừa suy giảm, duy trì đà tăng trưởng
hợp lý, bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Chính vì trao đổi này và
căn cứ vào tình hình thực tiễn, chúng tôi quyết định cắt giảm lãi suất.
Nhưng không nên nói đây là nới lỏng chính sách tiền tệ. Chưa vội nói
như thế. Mà đây hoàn toàn là thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ là
điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt.
- Thống đốc đánh giá thế nào về những phản ứng bước đầu của thị trường?
Khi động thái của Ngân
hàng Trung ương đưa ra, tôi theo dõi từ hôm qua tới giờ, từ các nhà đầu
tư cho tới các ngân hàng thương mại, họ hoàn toàn ủng hộ. Tôi cũng rất
vui mừng.
Với lãi suất cơ bản hiện
nay, các tổ chức tín dụng được quy định cho vay tối đa 18%. Nhưng hầu
hết các ngân hàng lớn trong đó chủ đạo là các ngân hàng thương mại nhà
nước cho vay chủ yếu 15 - 16%, dưới mức cho vay tối đa 2%.
Tôi cũng rất hài lòng
khi Ngân hàng Nông nghiệp công bố cho vay với các hộ nông dân 15,5%.
Ngân hàng Công thương cũng giảm lãi suất cho vay xuống phổ biến 15 -
16%. Vietcombank lần này giảm sâu, ưu tiên 15,2%. Ngân hàng Phát triển
nhà ĐBSCL giảm xuống 15 - 16%. Tôi cũng rất trân trọng các ngân hàng cổ
phần lên tiếng giảm lãi suất đầu tiên, như Liên Việt cho vay 15,5%,
Sacombank cho vay ưu đãi 16%.
Tôi cho những hưởng ứng ban đầu này rất tích cực và chắc chắn những khó khăn của doanh nghiệp dần dần được tháo gỡ.
Nhân đây tôi nói lại,
những khó khăn của doanh nghiệp phải nhìn tổng thể, tất cả từ chi phí
đầu vào, cung cách quản lý chứ không chỉ vì lãi suất ngân hàng. Tôi
muốn nhấn mạnh lại là việc hạ lãi suất chắc chắn khiến ngân hàng sẽ mở
rộng cho vay, nhưng không bao giờ đồng nghĩa với việc nới lỏng các
nghiệp vụ tín dụng để phát sinh nợ xấu mà không tạo ra động lực phát
triển mới; chúng ta nói là phát triển hợp lý và bền vững.
- Liên quan đến nợ
xấu, một số chuyên gia cho rằng con số 35.000 tỷ đồng nợ xấu công bố
mới đây là chưa sát thực tế. Ý kiến Thống đốc thế nào?
Chuyên gia kinh tế tôi
không biết họ căn cứ vào đâu. Còn chúng tôi căn cứ vào hồ sơ, hạch toán
của ngân hàng. Các tổ chức tín dụng hàng năm đều được kiểm toán độc
lập. Chúng ta không nên suy luận theo cách khác.
90% hồ sơ được chấp nhận cho vay
- Hiện nay hệ thống
ngân hàng đang dư thừa vốn khả dụng lớn, nhưng vẫn có sự dè chừng với
nợ xấu trong việc đẩy mạnh cho vay. Vây đâu là giải pháp để tháo gỡ, để
bên thiếu vốn gặp được bên thừa vốn, thưa Thống đốc?
Tôi thì không nghĩ một
bên thừa vốn. Thanh khoản của các ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế
thế giới hiện nay, tất cả các ngân hàng bao giờ cũng đảm bảo thanh
khoản cao hơn để đảm bảo phòng tránh rủi ro. Các nước đã bơm tiền vào
để hỗ trợ các ngân hàng nhằm tạo thanh khỏan tốt hơn. Đây là diễn biến
tất yếu.
Còn thanh khoản nhiều
hơn hiện nay, mục tiêu huy động vốn để cho vay. Nhưng cho vay, các
doanh nghệp phải có dự án tốt, khả thi, thì ngân hàng và doanh nghiệp
mới gặp nhau. Không thể có chuyện mệnh lệnh hành chính phải cho các
doanh nghiệp ABC là không có.
Số liệu mà tôi nắm được
cách đây 3 hôm của 30 - 40 tỉnh thành phố gửi về, trong số số hồ sơ gửi
đến ngân hàng thương mại đã được chấp nhận cho vay là 90%, còn 10% bị
từ chối.
Tôi đang tính toán là sẽ
có văn bản chỉ đạo các ngân hàng trong ngày tới, để tạo minh bạch với
khách hàng, trong trường hợp không đồng ý cho vay cần thông báo lý do
cụ thể. Nhưng tôi cũng phân vân là tính bảo mật như thế nào, công bố có
thể ảnh hưởng đến những quan hệ đối tác.
- Trong số 10% bị từ chối, Thống đốc có thể cho biết lý do nào là phổ biến?
Rất nhiều, nhưng chủ yếu là hiệu quả dự án không đảm bảo hạch toán có lợi nhuận đồng thời trả nợ và thanh toán.
- Chi nhánh Ngân hàng
Nhà nước Hà Nội cho biết tổng huy động từ đầu năm được hơn 400.000 tỷ
đồng nhưng mới cho vay khoảng 250.000 tỷ đồng, trong khi nhiều doanh
nghiệp vẫn thiếu vốn?
Không nên nhìn một địa
bàn, cần nhìn cả hệ thống. Những vùng đô thị thường huy động cao hơn
cho vay. Số đó sẽ được điều về những vùng nông thôn.
Giảm lãi suất, không thể áp đặt chủ quan
- Theo Thống đốc mặt bằng lãi suất cho vay thời gian tới nên ở mức bao nhiêu là hợp lý?
Tôi cho rằng đặt ra vấn
đề lãi suất bao nhiêu là phù hợp là không nên. Tôi thì đặt ra vấn đề
giá thành của ngân hàng. Chúng ta đi vay để cho vay, đây không phải là
tiền Chính phủ in ra rồi bảo họ cho vay. Vừa rồi khi thực hiện cắt giảm
lãi suất lần này, các bạn có hình dung không, lãi suất đầu vào của các
ngân hàng thương mại bình quân 15,6%. Nếu chi phí khác trung bình cộng
thêm 3 điểm phần trăm, vị chi là 18,6%. Tôi có tác động chính sách bằng
cách giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cũng chỉ đỡ đần họ khoảng 0,3%. Họ
phải cắt giảm chi phí tối đa để bù đắp thêm 0,3% nếu cho vay ở mức 18%.
Còn bây giờ đặt ra bao nhiêu là vừa thì đòi hỏi nền kinh tế và diễn
biến của nền kinh tế.
Thời gian tới, giả sử
nhiều doanh nghiệp vẫn khó khăn trong sản xuất kinh doanh và xuất khẩu
do lãi suất cao, liệu Ngân hàng Nhà nước có tính tới khả năng tiếp tục
cắt giảm lãi suất không?
Hạ lãi suất như tôi đã
nói là theo quan hệ cung cầu. Ngân hàng là tổ chức trung gian, họ đi
vay để cho vay chứ không phải chúng ta áp đặt chủ quan, muốn thế nào là
được. Ngân hàng Trung ương chỉ tác động về chính sách để hướng các ngân
hàng đi theo điều tiết của cung cầu. Và vừa qua chúng ta đã làm như thế.