Tiến Sĩ Võ Trí Thành – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW đã cho biết như vậy trong cuộc Hội thảo Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2008 mới diễn ra tại Hà Nội.
Những kiến nghị thúc đẩy thương mại
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đã đưa vị thế Việt Nam trên trường quốc tế lên tầm cao mới, cam kết đổi mới, hội nhập nền kinh tế XHCN có định hướng thị trường được khẳng định. Đầu tư nước ngoài trực tiếp, gián tiếp tăng vọt. Xuất khẩu; trừ xuất khẩu dệt may hưởng lợi ngay- Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ bỏ ngay quota cho Việt Nam. (Tuy nhiên, Mỹ áp đặt cơ chế giám sát dệt may từ Việt Nam). Kiều hối, đầu tư từ Việt Kiều, một thời gian sau xuất khẩu sẽ hưởng lợi từ việc gia nhập vì các doanh nghiệp mới đầu tư, mở rộng sản xuất sẽ gia tăng xuất khẩu. Khả năng sử dụng cơ chế xử lý tranh chấp thương mại của WTO như vụ cá Tra, cá Basa, cơ chế giám sát dệt may của Mỹ ngày càng tốt. Điều này không thể được nếu chưa gia nhập WTO.
Bên cạnh đó, WTO cũng mạng lại không ít tiêu cực như lộ trình giảm thuế AFTA, WTO, ACFTA, nhập khẩu tăng mạnh, mở cửa nhiều lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ cạnh tranh từ nước ngoài. Cũng có những tiêu cực không phải do gia nhập WTO như USD mất giá, lạm phát quốc tế. Lạm phát Việt Nam = lạm phát quốc tế + giá trị gia tăng của Việt Nam (tâm lý + điều hành). Do đó, nhập khẩu rẻ hơn (giảm thuế+ USD mất giá). Tiêu dùng nhiều hơn, thâm hụt mạnh hơn. Thâm hụt thương mại trong quý I/2008: Kế hoạch nhập cả năm 2008 là 78.4 tỷ USD (khu vực nội 51.4 tỷ USD, FDI 27 tỷ, nhập siêu 18- 20 tỷ). Nhập khẩu quý I là 20.59 tỷ, tăng 68.7% (năm 2007). Nhập siêu 7.46 tỷ , chiếm 38.9% cả năm, tăng 3,8 lần so với cùng kỳ năm 2007. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên phụ liệu dệt may, dầu mỡ động thực vật, nguyên liệu thuốc lá, clinke…
Trước những thuận lợi và khó khăn này, tại Diễn đàn Xúc tiến Xuất khẩu Việt Nam 2008, các đại biểu kiến nghị: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Thương mại,… cần duy trì tỷ giá linh hoạt (kiểm soát) sát với thị trường hơn. Chúng ta cần áp dụng mức lãi suất cho vay thấp hơn cho các lô hàng xuất khẩu qua các cửa khẩu biển quốc tế Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM… Tránh các trường hợp lạm dụng như trước đây các vụ thoái thuế VAT cho xuất khẩu và phải có biện pháp cụ thể để được mức lãi xuất thấp. Trường hợp Ngân hàng phát triển hoạt động như ngân hàng xuất nhập khẩu (hỗ trợ) thì cần có chính sách công khai minh bạch để người thực sự xuất khẩu mới được hưởng lợi. Kiến nghị Bộ Công thương hoàn thành gia nhập WTO, mở rộng đàm phán FTA: Việt Nam- Nhật Bản EPA… mở cửa thị trường cho xuất khẩu, củng cố cơ quan đại diện Thương mại Việt Nam tại trụ sở WTO, đẩy mạnh tham gia các hoạt động của WTO, đẩy mạnh đưa vào sản xuất các công trình lớn, nhà máy điện, thay thế nhập khẩu, tạo xuất khẩu mới, giảm nhập siêu…
Mặt khác, Bộ Tài chính nên đưa ra lịch trình việc thay đổi thuế xuất nếu Tổng công ty vốn nhà nước “mua” cổ phiếu nâng đỡ thị trường Chứng khoán thì đề nghị dành phần mua cổ phiếu các công ty có tỷ lệ xuất khẩu cao trên tổng doanh số (>50%). Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các tỉnh, thành phố cần tinh lọc FDI và đầu tư trong nước, Bộ Giao thông, Bộ Xây dựng tập trung phát triển các tuyến đường, bến cảng, sân bay…
Doanh nghiệp, Hiệp hội Doanh nghiệp nên đa dạng thị trường, ngoại tệ thanh toán, công cụ bảo đảm thanh toán, xây dựng thương hiệu mạnh của Việt Nam. Nhiều đại biểu tại Hội thảo Xúc tiến xuất khẩu Việt Nam 2008, cho rằng: “Muốn ra biển lớn, phải đóng thuyền to”…
Khi rủi ro kinh tế vĩ mô… “nảy nở”
Gia nhập WTO còn ảnh hưởng tới kinh tế - xã hội như sản lượng, tăng trưởng và xuất khẩu tăng (song thâm hụt quốc tế thương mại tăng). Tỷ lệ nghèo giảm, nhưng tác động đến phân phối thu nhập không rõ ràng, thu thuế quan giảm, song tổng thu nhập ngân sách không giảm/giảm ít và có thể tăng. Thụ động gia nhập WTO thì lợi ích thu được nhỏ cộng với việc chỉ gia tăng lợi thế tĩnh sẽ dẫn tới nguy cơ tụt hậu, “rơi vào bẫy chi phí lao động thấp”.
Mặc dù, xuất khẩu dệt may, điện tử, cơ khí,… gia tăng đáng kể. GDP tăng 8.5% (năm thứ ba tăng trưởng khu vực dịch vụ cao hơn mức trung bình). Nhưng, chúng ta đánh giá thấp lợi ích thu được so với thực tế do không nhìn thấy hết những tác động (nhờ cạnh tranh và tác động FDI + chuyển biến thể chế). Chúng ta cũng thiếu đánh giá tác động đến sự bình ổn kinh tế vĩ mô (lạm phát; dịch chuyển các luồng vốn…), chưa có nhiều kết hợp với các nghiên cứu tình huống nên có rủi ro nền kinh tế vĩ mô.
Theo Tiến sĩ Võ Trí Thành- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thì: Hơn một năm nhìn lại gia nhập WTO, ta thấy rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô nảy nở, lạm phát tăng (12,6%), gây ra áp lực xã hội nhất là đối với nhóm thu nhập thấp cùng sự lúng túng trong điều hành chính sách vĩ mô. Đặc biệt, chính sách tiền tệ (trong bối cảnh vốn đổ vào nhiều). Thâm hụt thương mại “bành trướng” (> $12 tỷ). Vấn đề: năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng tạo ra nhờ nhập khẩu thiết bị máy móc. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tỷ lệ S có xu hướng chững lại và S- I doãng ra (I/GDP>40% và khoảng trên dưới ½ tổng đầu tư xã hội thuộc đầu tư nhà nước). Việt Nam hiện bộc lộ nhiều điểm nằm trong số nguyên nhân gây bất ổn tài chính. Những bất cập cố hữu của nền kinh tế Việt Nam những “nút cổ chai” cho tăng trưởng, phát triển bền vững bộc lộ rõ hơn.
Khi kinh tế vĩ mô rủi ro sẽ nảy sinh những thuẫn: Nhu cầu và khả năng hiện thực đạt tốc độ tăng trưởng cao (chẳng hạn 90%) > < năng lực quản trị phát triển (xử lý các vấn đề xã hội, quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng, ổn định vĩ mô, môi trường). Hoạt động kinh doanh sôi động, đa dạng gắn với cơ hội “tạo lợi nhuận” nhanh chóng > < sự bất cập trong quản trị rủi ro của doanh nghiệp (cả định chế tài chính) và năng lực giám sát tài chính (khung khổ pháp lý, kỹ năng và sự phối hợp tổ chức bộ máy).
Tuy nhiên, ông Thành vẫn nhấn mạnh: Sự kết hợp tận dụng hội nhập để thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế (theo định hướng thị trường cùng việc hoàn thiện chức năng nhà nước) chính là nhân tố quan trọng nhất tạo niềm tin và qua đó thúc đẩy đầu tư, kinh doanh phát triển. Hội nhập càng sâu rộng thì tiềm năng vốn có của Việt Nam càng được khơi dậy. Việt Nam vẫn có nhiều mặt hàng có khả năng cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh tĩnh.
Cạnh tranh và thu hút hiệu quả hơn FDI đã bước đầu giúp Việt Nam chứng minh được khả năng có thể tạo dựng tốt lợi thế cạnh tranh động. Đây chính là điểm mấu chốt để Việt Nam vượt khỏi “bẫy lương thấp” trong thời gian sớm nhất.