Chuyện kể rằng, ngày xưa có hai anh em trai nhà kia mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống rất yêu thương tưởng như không thể chia lìa. Thế rồi, một hôm, cả hai cùng đem lòng yêu mến một cô gái làng bên. Nhưng về sau người anh được kết duyên cùng nàng. Người em buồn, em đi lang thang, đi mãi đi mãi đến bờ một con sống lớn thì kiệt sức không đi được nữa. Người em gục xuống đấy chết và biến một tảng đá. Người anh không thấy em về, bèn đi tìm. Đi mãi đi mãi đến bờ con sông nọ thì kiệt sức và chàng ngồi xuống cạnh tảng đá, ôm mà khóc. Quá đau buồn người anh chết biến thành cây Cau mọc ngay cạnh tảng đá, xòe tán che chở cho em mình như những ngày nào.

Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết
Người vợ đợi chồng mãi không thấy bèn đi tìm, đi mãi đi mãi và cũng đến bờ con sông ấy thì kiệt sức. Nàng ngồi lên tảng đá ôm cây Cau khóc hết nước mắt chết hóa thành dây Trầu leo lên cao.
Sau này, người ta lấy lá trầu ăn với quả cau thì thấy sắc màu đỏ thẫm nhưng xỉn, thêm vào một ít vôi được nung từ tảng đá thì nước trầu chuyển thành đỏ tươi như máu. Dân gian cho rằng màu máu tươi ứa ra ấy chứng thực cho tình cảm thiêng liêng của tình yêu thương. Tục ăn trầu của người Việt có từ đấy.
Cho đến tận bây giờ, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện. Khi có lễ nhỏ, lễ lớn, hội hè không thể thiếu được cơi trầu.
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi.
Với người Việt, lễ thách cưới cho dù có lớn bao nhiêu nhưng phải có trầu, cau.
Trầu không những làm đỏ môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp. Người ta không cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ.

Cảnh bán trầu cau ngoài chợ
Người xưa ăn trầu còn là để bảo vệ hàm răng của mình, chất chát của trầu cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng cứng chặt lại không lung lay. Còn trong y học cổ truyền người Việt Nam xưa đã dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển mò ngọc trai, săn bắt đồi mồi... Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia coi việc têm trầu là một nghệ thuật.

Miếng trầu là đầu câu chuyện
Qua cử chỉ têm trầu, ăn trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của con người. Chính vì lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa...

Những cô gái quan họ ngồi têm trầu
Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới ăn trầu cho nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes - một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: "Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn".
Miếng trầu vẫn luôn là vật thiêng liêng không thể thiếu trên bàn thờ tổ tiên, và để làm đầu câu chuyện của người Việt ta ở những dịp hiếu, hỉ, ngày Rằm, mồng Một hoặc các ngày lễ Tết hoặc trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin.