Tại Kết quả Giám định pháp y tâm thần số 03 ngày 5/1/2007 của Tổ chức Giám định pháp y tâm thần Hải Phòng ghi: “Bệnh nhân Phạm Văn Thắng- SN 1980 có mắc bệnh tâm thần: Bệnh tâm thần phân liệt thể di chứng (Theo phân loại bảng quốc tế lần X có mã số F20.5). Khi thực hiện hành vi phạm tội bệnh nhân có mắc bệnh này; Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bệnh nhân bị hạn chế; Bệnh nhân cần theo dõi và điều trị lâu dài”.
Khoản 1 Điều 13 BLHS qui định rõ: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.
Căn cứ vào qui định trên đây cùng bản kết luận giám định, VKSND TP Hải Phòng đã có quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Phạm Văn Thắng tại Bệnh viện tâm thần trung ương từ tháng 3/2007 đến tháng 12/2007. Khi rời Bệnh viện tâm thần trung ương, giấy ra viện ghi: “Tình trạng tâm thần của Thắng đã ổn định, không cần phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Từ Bệnh viện tâm thần trung ương, Thắng được đưa thẳng vào trại tạm giam rồi ra tòa lĩnh án!
Chúng tôi đã về xã Thái Sơn (An Lão, Hải Phòng) làm việc với các đồng chí Mai Thanh Nhỡ- Bí thư Đảng ủy; Nguyễn Phú Đởm- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh và cả hai vị đều là cựu chiến binh, từng tham cuộc kháng chiến chống Mỹ với ông Phạm Văn Bê- cha của bệnh nhân- bị cáo Phạm Văn Thắng và được biết hoàn cảnh thật thương tâm. Ông Phạm Văn Bê đã được xác định là cựu chiến binh bị nhiễm chất độc da cam, có sổ trợ cấp ưu đãi hàng tháng theo Pháp lệnh người có công với cánh mạng. Ông có 4 người con (3 gái, 1 trai là Thắng). Trong 4 người con này thì đã có 3 người cũng bị nhiễm chất độc da cam từ bố, 1 người đã chết, còn 2 người đang có sổ trợ cấp ưu đãi là Thắng cùng một chị gái của Thắng theo chế độ con của người có công với cách mạng.
Cả hai người con này đều có sổ điều trị bệnh tâm thần mãn tính từ năm 2000 tại Bệnh viện tâm thần Hải Phòng. Đầu năm 2004, chị Lê Thị Thu Huyền thương cảm hoàn cảnh éo le của Thắng, đã đồng ý về làm con dâu ông Bê, làm vợ Phạm Văn Thắng. Cuối năm 2004, vợ chồng Thắng sinh một lúc 2 con gái! Riêng về ông bốcựu chiến binh Phạm Văn Bê, hôm xét xử sơ thẩm (21/2/2008) cũng có mặt. Nhưng sau khi nghe tòa tuyên án với đứa con tâm thần của mình, trở về nhà, ông trầm uất rồi qua đời hai tháng sau đó, ngày 24/4/2008, khi mới 57 tuổi đời!
Trở lại vấn đề áp dụng Điều 13 BLHS. Khi VKSND TP Hải Phòng áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh với bệnh nhân Thắng tức là Viện đã thừa nhận tình trạng tâm thần của Thắng “không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi” như nói ở khoản 1 Điều 13. Bệnh nhân Thắng “phải theo dõi và điều trị lâu dài” như bản Kết luận giám định cho biết. Khi rời Bệnh viện tâm thần trung ương, tình trạng tâm thần của Thắng chỉ là “ổn định” chứ không phải là “khỏi”, không thể “chữa bệnh bắt buộc” vô hạn định nên Thắng được cho xuất viện.
Hơn nữa, theo quy định tại khoản 1 Điều 13, kể cả sau này, dù có khỏi bệnh chăng nữa thì Thắng cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó, khi đang mắc bệnh. Khoản 2 Điều này có quy định: “Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự”. Kết luận giám định đã khẳng định: “Khi thực hiện hành vi phạm tội, bệnh nhân có mắc bệnh này” chứ không phải bệnh mới phát sau khi phạm tội. Theo quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng thì kết luận giám định cho biết, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của Thắng chỉ bị “hạn chế” chứ không phải bị “mất”. Luật sư Phạm Hồng Hải - Chủ nhiệm Đoàn LS Hà Nội (báo Lao động số ra ngày 20/11/2007) cho rằng, khi có trưng cầu giám định về tâm thần, các giám định viên cần phải trả lời rõ ràng, dứt khoát vào thẳng câu hỏi mà cơ quan trưng cầu đưa ra, tức là cụ thể bệnh nhân này có hay không có khả năng nhận thức. Câu trả lời hoặc là khẳng định, hoặc là phủ định chứ không thể chung chung ... “hạn chế”. Chúng tôi cũng đồng quan điểm này bởi thế nào là “hạn chế”? Tức là “giảm” khả năng nhận thức? Vậy giảm 99% khả năng nhận thức cũng là “hạn chế” và giảm 0,1% cũng là “hạn chế”? Vậy thì ý nghĩa của bản kết luận giám định ở đâu? Như vậy, khi đưa ra kết luận mập mờ “hạn chế” là một thiếu sót của cơ quan giám định ở Hải Phòng!
Theo điều 64 Bộ luật TTHS thì bản kết luận giám định cũng chỉ là một trong các nguồn chứng cứ mà thôi. Nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng là phải xem xét, đánh giá các chứng cứ, các tình tiết của vụ án “một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ” (Điều 66 BLTTHS).
Tại phiên sơ thẩm, Luật sư Nguyễn Văn Thập- Giám đốc Trung tâm tư vấn pháp luật Cựu chiến binh (thuộc Thành hội CCB TP Hải Phòng)- người bào chữa miễn phí cho bị cáo Phạm Văn Thắng đã chỉ rõ vấn đề trên đây. Đồng thời, ông Thập phân tích thêm, trong hồ sơ vụ án này chỉ có 1 chứng cứ duy nhất buộc tội Phạm Văn Thắng, đó là 2 lời khai của 2 kẻ đồng phạm trong vụ trộm cắp mà cả 2 tên này đều là người cùng quê với Thắng, quá biết rằng Thắng là bệnh nhân tâm thần, đang điều trị tại Đông Khê, tức Bệnh viện tâm thần Hải Phòng từ năm 2000! Ngoài ra, trong hồ sơ còn có lời khai nhận tội của chính Phạm Văn Thắng sau khi Thắng bị bắt khẩn cấp. Thế nhưng, vụ án này thuộc thẩm quyền điều tra cấp thành phố mà lời khai nhận tội của Thắng được lập bởi một cơ quan không đúng thẩm quyền, tức công an quận. Hơn nữa, khi thiết lập biên bản không có luật sư tham gia, vi phạm khoản 2 Điều 32 BLTTHS ! Do vậy, lời khai nhận tội này không thể coi là chứng cứ buộc tội Thắng!
Tại sao các điều tra viên cấp thành phố đã nhiều lần vào trại tạm giam để hỏi cung bị can nhưng không hề lập được biên bản nào? Tại sao trong phiên sơ thẩm, bệnh nhân- bị cáo Phạm Văn Thắng rũ xuống trước vành móng ngựa như người vô hồn, không có phản ứng trước các câu hỏi do HĐXX đưa ra? Đó là băn khoăn của nhiều người dự phiên tòa. Liệu có phải Thắng giả điên để trốn tránh TNHS?
Hẳn là không phải bởi nếu muốn giả điên thì đó phải là người vô cùng tỉnh táo và rất... thông minh nữa chứ không phải là Thắng một nạn nhân chất độc da cam, bệnh nhân tâm thần mãn tính... Dư luận Hải Phòng hi vọng vào phiên phúc thẩm sắp tới, HĐXX TAND Tối cao sẽ đưa ra phán quyết chính xác!