Tuy nhiên vì Vảng đang ở cấp II, lại xin xuống học cấp I, nằm ngoài quyền hạn của mình, nên thầy Quang đành để Vảng sáng thì ngồi lớp 7 mà chiều lại xuống lớp 5.
Xứ "mù" cái gì cũng thiếu
Thầy giáo Dì A Sà (Trường Lùng Than, xã Mù Sang) dùng dùi trống bằng cán cuốc đánh ba hồi trống điểm trường. Chỉ mới lác đác dăm ba em học sinh đến lớp. Nhìn sân trường thưa thớt, thầy Sà buồn: "Các em bỏ học đi đào đá thuê cho công trình kè chắn lũ vào bản rồi". Chẳng kịp phân bua với cánh phóng viên, thầy đến ngay nhà trưởng bản. Chẳng may trưởng bản đã lên xã họp, thầy Sà đành cuốc bộ ra đầu bản tìm học sinh của mình về lớp.
Đôn đáo đi ngược con suối Lùng Than, thầy tìm được 5 học sinh đang tay cuốc, lưng đeo lu cở gùi đá ngược lên đầu bản bán cho công trình với giá 120.000 đ/khối. Nói đến rát cả họng, rồi lại dỗ dành như trẻ lên năm, lên ba nhưng rồi học sinh Phàn Lao Sang nói chỏng chơ với thầy: “Đi học có tiền đâu, đi nhặt đá bán còn có tiền”. Thầy đành cun cút trở về lớp, dạy 7 em học sinh còn lại.
Lớp 2 của thầy Sà ở bản Lùng Than có nhiều điều đáng nói. Một cái lán lợp bằng gianh, bốn bề thưng bằng tre nứa khoảng 15 mét vuông được ngăn đôi, 2/3 là dành cho lớp học, còn 1/3 là dành cho chỗ sinh hoạt cá nhân của thầy. Nào là giường ngủ, bếp nấu ăn, quần áo, thực phẩm dự trữ hàng tháng trời là cá khô và trứng. Tất cả chỉ vẹn vẹn trong… khoảng 5 mét vuông.
Còn lớp học thì thông thốc bốn bề, bàn ghế được thầy và trò lên rừng tìm gỗ về ghép lại. Chỉ cần 12 học sinh đi học đủ là bàn ghế có nguy cơ… sập bất cứ lúc nào. Thầy bảo: “Bàn ghế có hỏng thì đóng lại được, nhưng những bộ bàn ghế này ít khi chứa đủ 12 học sinh lắm!”.
Cái lớp học và nhà ở của thầy Sà được dựng năm 2004. Vào cái năm ấy thì bản nào ở xã Mù Sang cũng đều khổ như nhau nên các thầy cô chẳng phải chọn lựa. Đến bản nào cũng được, bản có ít nguồn nước thì dân lại nghèo quá, có một số bản trên cao như Mù Sang Cao, Sín Chải thì thiếu nước trầm trọng. Cả bản Lùng Than, bản thuộc diện xa nhất, đói nhất của xã Mù Sang chỉ có một cái nhà kiên cố duy nhất của dự án PEDC dành cho trẻ em vùng đặc biệt khó khăn.
Cô Nguyễn Thúy Hằng, giáo viên dạy lớp ghép 3 + 4 nói rằng, mấy ngày đầu có lớp mới các em đi học đều lắm, vì được ở nhà xây, lại học trên nền gạnh hoa mát rượi. Nhưng khoảng một tuần sau thì đâu lại vào đấy. Hôm chúng tôi đến, hai cái lớp học ghép của cô cũng bỏ đến 6 em vì đi nhặt đá cho công trình và theo bố mẹ đi nương.

Em Thào Thị Mỷ còn địu cả em đến lớp. Mỷ được bố mẹ giao nhiệm vụ "ở nhà trông em" để cả gia đình lên nương. Cô Hằng đã “tóm” được Mỷ khi em chuẩn bị ra đầu bản theo chúng bạn nhặt đá bán cho công trình. Tại lớp học ghép 3 + 4 ấy cô Hằng kiêm luôn nhiệm vụ... dỗ trẻ vì nếu em của Mỷ khóc ré lên thì cả lớp ghép không thể học được. Cô cứ giảng cho lớp 3 một tí rồi lại chạy sang lớp 4 hướng dẫn các em làm toán, rồi lại dỗ dành em của Mỷ.
Chúng tôi cũng gặp bữa ăn của thầy cô cắm bản. Thầy Sà và cô Hằng đã quá chán món cá khô và trứng. Món trứng đã chế biến đủ kiểu như luộc, rán, hấp, thậm chí có khi hứng chí còn nướng trứng lên ăn cho đỡ chán. Bản Lùng Than quá xa trung tâm, chỉ có cá khô và trứng có thể mua để dự trữ được dài ngày.
Cô Hằng cũng đã tính làm một vườn rau để cải thiện bữa ăn, nhưng càng trồng lại càng chán nản. Vì mùa khô ở vùng này, cỏ còn không mọc nổi, huống chi là rau, vì toàn đá là đá. Còn mùa mưa, chỉ cần một trận lũ nhẹ tràn qua, cả vườn rau của Hằng đã trôi theo dòng lũ, làm mồi cho cá suối.
Cô Lò Thị Cương dạy ở điểm Trường Chu Dao Chóp II đi đến từng nhà vận động học sinh trở lại lớp thì bị chó cắn. Cũng chẳng cần tiêm phòng, vì đi đến trung tâm y tế xã quá xa, cô đành để vậy, đắp mấy lá chó đẻ rồi lại đi tiếp. Đến bây giờ, cả đàn chó bản Chu Dao Chóp II đã quá quen hơi cô giáo, chẳng con nào nhảy bổ vào cô khi cô đến nhà học sinh. Nhưng lại có một nỗi khổ khác vì dân bản đã vận dụng phương án “vườn không nhà trống” đối phó với cô giáo của con. Nhiều khi, mệt bở hơi tai vượt dốc núi mà không tìm được học sinh nào, tủi thân quá Cương khóc, khóc như chính mình mắc tội.
"Đi học cho thầy, cô lấy lương!"
Thầy Lê Văn Quang lên nhận công tác ở Mù Sang năm 2007. Dù cũng đã xác định trước là khó, khổ nhưng thầy vẫn cảm thấy bàng hoàng. Thầy không thể tưởng tượng được cái nơi mình công tác lại thiếu nhiều thứ đến thế, nhưng thầy cảm động hơn vì có những người đồng nghiệp cam chịu và nhẫn nại với nghề đến thế.
Và việc đầu tiên thầy làm, là khoác ba lô “hành quân” đến tất cả các điểm trường trong xã. Khi đã chứng kiến thực trạng rồi, thầy quyết tâm phải làm cái gì đó.
Thầy Quang nhận thấy, hầu hết học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 chưa biết hết tiếng phổ thông, chưa giao tiếp bình đẳng với giáo viên nên vấn đề truyền giảng kiến thức cho các em cực kỳ khó khăn. Cô giảng trò không hiểu, chỉ thuộc lòng bập bẹ như... con vẹt. Học trò không hiểu bài, ắt chán nản rồi bỏ trường. Thầy vận động giáo viên thuê người hỗ trợ cho giáo viên là người địa phương để phiên dịch tiếng phổ thông ra tiếng địa phương rồi truyền lại cho học sinh.
Đau đầu nhất đối với thầy Quang và các giáo viên ở Mù Sang là vấn đề học sinh ngồi nhầm lớp. Qua điều tra thí điểm ở bản Khóa San thì phát hiện có 4 em học sinh đang học lớp 4 là: Thào A Ca, Thào A Chung, Thào Pla và Thào A Mái mà vẫn chưa nắm vững hết kiến thức lớp 3. Trăn trở mãi rồi thầy cùng Ban giám hiệu nhà trường quyết định đưa 4 em học sinh ấy về…. lớp 3, đúng vị trí của mình, mặc dù chưa kết thúc năm học. Thầy cũng dự đoán, các em chán nản và... thẹn với bạn bè, rồi cũng sẽ bỏ học đi nương.
Đúng như dự đoán, chúng tôi xuống nhà Thào A Chung thì em đã bỏ học đi nương từ mờ sớm. Cả nhà Chung chỉ có mình bố là ốm ở nhà không đi nương được. Bố Chung có lẽ chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện học của con mình nên hỏi cái gì ông cũng không biết.
Thấy nhà trường triển khai gắt gao đối với vấn đề học sinh ngồi nhầm lớp, Bí thư xã Phàn A Tính cũng dắt con mình là Phàn A Vảng đang học lớp 7 đến gặp thầy Quang xin cho cháu… xuống học lớp 5. Vì Vảng đang ở cấp II, lại xin xuống học cấp I, nằm ngoài quyền hạn của mình, nên thầy Quang đành để Vảng sáng thì ngồi lớp 7 mà chiều lại xuống lớp 5.
Trước tình trạng học sinh bỏ học nhiều, Ban chỉ đạo phổ cập giáo dục của xã Mù Sang mới nhóm họp, tổng kết và đề ra phương hướng vận động học sinh đi học trong thời gian tới. Thành phần dự họp gồm tất cả các trưởng bản, lãnh đạo xã và các nhà trường. Trưởng bản Lùng Than, ông Tẩn Chinh Phú bị chì trích nhiều quá mới đứng dậy nói rằng: “Dưới bản nghèo quá, ăn chưa đủ huống chi đi học. Đi học có tiền đâu, đi nhặt đá bán cho công trình còn có tiền…”. Còn Trưởng bản Hán Sung, ông Phàng Sình Phu nói: "Thanh niên bản mình thích đi kéo vợ hơn đi học…".
Thầy Quang tâm sự, điều tệ hại bây giờ là tất cả các giáo viên cắm bản ở xã Mù Sang đã hình thành một “thói quen” trước khi lên lớp là đi vận động học sinh. Đi vận động các em đến lớp chỉ duy trì sĩ số học sinh trước mắt, còn về lâu dài thì… cực kỳ nguy hiểm. Vì các thầy cô đi vận động nhiệt tình quá, khiến cho phụ huynh nghĩ: Các thầy cô cần học sinh chứ học sinh cần gì trường, hoặc “thương cái thầy, cô giáo này quá, cho con em mình đi học cho thầy, cô giáo nó lấy lương!”.
Thầy Quang và tập thể giáo viên ở Mù Sang đã có nhiều mùa “gieo chữ” và “gặt chữ” nghèo nàn. Để làm sáng xứ “Mù” Sang các thầy cô kiên quyết bám bản, bám trường, bám học sinh mà chật vật gieo từng con chữ. Và có câu nói quen thuộc về giáo viên ở Mù Sang nhưng đắng đót đối với người miền biên viễn Phong Thổ: “Đã “mù” lại còn “sang”...