Người phụ nữ còn rất trẻ ngồi cúi gằm mặt trước vành móng ngựa. Thỉnh thoảng cô đưa tay gỡ chiếc kính cận, lau mắt rồi nhìn vào khoảng không trước mặt. Cái nhìn vô hồn... Đột ngột, chuông phòng xử réo rắt vang lên, cô giật bắn người đứng dậy, ngơ ngác nhìn xung quanh.
Đó là L.T.H.H (SN 1980), bị VKSND TPHCM truy tố về tội giết người. Nạn nhân chính là con ruột của H.
Do nợ nần thúc ép, 11 giờ ngày 6-10-2006, H. đến trường mẫu giáo đón bé Khoai. Sau khi thuê phòng ở một khách sạn, mua thuốc trừ sâu, H. chở con đi ăn, dạo chơi ở Công viên Đầm Sen, đến khoảng 21 giờ mới về khách sạn. Thức dậy vào lúc 9 giờ sáng hôm sau, H. đổ thuốc trừ sâu vào một ly nhựa, pha thêm nước Coca-Cola. Từ phòng vệ sinh đi ra, H. trông thấy bé Khoai cầm ly nhựa trên bàn uống hết một nửa. Không nói gì, H. lẳng lặng uống cạn phần nước còn lại rồi đưa con lên giường nằm nghỉ. Một lúc sau, bé Khoai nói: “Mẹ ơi, con thấy có hai tivi trong phòng”. Biết con đã ngấm thuốc, H. uống tiếp nửa chai thuốc trừ sâu. Khi nhân viên khách sạn phát hiện, bé Khoai đã chết, H. được đưa đi cấp cứu...
Bản cáo trạng còn dài, nhưng tôi đã không tài nào nghe tiếp được nữa. Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh bé Khoai cười rạng rỡ, vô tư nhảy chân sáo cùng mẹ vui chơi ở Đầm Sen, phá cỗ Trung thu ở khách sạn mà không mảy may biết rằng đó là lần cuối cùng trong đời bé được hạnh phúc như thế. Cái câu: “Mẹ ơi, con thấy có hai tivi trong phòng” cứ âm âm, vang vang mãi trong đầu tôi. Suy nghĩ thực sự của H. khi nghe con nói câu ấy là gì, tôi không thể biết. Nhưng cứ hình dung ra vẻ mặt ngây thơ, vô tội của bé khi cái chết đang sầm sập đến, tim tôi như có ai bóp nghẹt. Đau đến không thở được. Vị chủ tọa nói: “Một ngày trời chuẩn bị cho việc tự tử, thời gian khá dài, sao bị cáo vẫn không suy nghĩ thấu đáo? Bị cáo khai, nhìn thấy con ngủ với vẻ mặt thiên thần, bị cáo không nỡ tước đoạt sự sống của con, vậy mà sao khi biết bé Khoai ngấm thuốc độc, bị cáo vẫn không tỉnh ra, không đưa con đi cấp cứu?”. H nghẹn ngào: “Bị cáo quá hoảng sợ. Nghĩ là con sẽ chết nên bị cáo lấy thuốc rầy uống thêm để được chết cùng con...”.
Không kìm được sự phẫn nộ và đau lòng, vị thẩm phán cao giọng: “Cứ cho rằng vì nợ nần thúc ép mà bị cáo đã quyết định hủy hoại bản thân. Nhưng còn con bị cáo, bé có tội tình gì? Bị cáo không tiếc sinh mạng của mình thì cũng phải nghĩ cho con. Đâu phải sinh con ra là bị cáo có quyền định đoạt sự sống của con? Tiền có thể làm ra được, nợ từ từ rồi cũng trả xong, con của bị cáo mất đi rồi, dù hối hận, ăn năn đến ngàn lần, bé vẫn không thể sống lại được... Bị cáo có tội với xã hội, với cha mẹ, với bản thân và với con của mình...”. Vị thẩm phán còn nói thêm nhiều điều. Ông càng nói, H. càng tức tưởi khóc. Có lẽ H. cũng đang rất đau. 21 tuổi, H. lấy chồng. 22 tuổi, sinh bé Khoai. 23 tuổi, ly hôn, một mình nuôi con gái. Còn rất trẻ nhưng lại không may mắn có được hạnh phúc lứa đôi, có thể nói, với H., bé Khoai là tất cả hy vọng, niềm an ủi, lẽ sống. Và vì thế, dù giận H., dù không thể tha thứ cho hành vi của H., tôi vẫn tin rằng trong thâm tâm, H. chưa bao giờ có ý định giết con. “Hổ dữ không ăn thịt con”. H. cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Trong hoàn cảnh bức bách, cùng quẫn, H. đã tìm đến cái chết như là một sự giải thoát. Và vì thương con, không muốn con bơ vơ trên cõi đời này (cha bé Khoai đã có gia đình khác), H. mới nghĩ đến chuyện để con chết cùng. Tội lỗi thay cho kiểu suy nghĩ nông cạn, ích kỷ, nhẫn tâm này. Bản án 12 năm tù sẽ chẳng là gì, H. rồi cũng chấp hành xong, nhưng khoảng trống đau đớn trong tâm hồn, nỗi ám ảnh triền miên về cái chết của con chắc chắn sẽ theo H. kể từ khi tỉnh dậy sau lần chết hụt cho đến tận hôm nay và mãi mãi về sau. Đó mới chính là bản án nặng nề nhất đối với một người mẹ.